Thứ Tư, 15 tháng 8, 2018

Giai thoại hay nhất - P. 7


Hãy tiếp tục đi con đường của mình

Một học trò hỏi Đức Phật:
- Nếu một người nào đấy đánh con thì con cần phải làm gì?
Đức Phật hỏi lại:
- Nếu một cành cây khô từ trên cây rơi xuống người con thì con phải làm gì?
Người học trò trả lời:
- Thì con biết làm sao được? Đấy là một sự trùng lặp ngẫu nhiên do con đã có mặt ngay đúng cái lúc cành cây khô rơi xuống.
Đức Phật nói:
- Thì con cũng tỏ thái độ của con như thế. Chẳng qua là có một ai đấy điên cuồng, trong cơn giận dữ đã đánh con. Điều này cũng giống như cành cây khô đã rơi xuống người con vậy. Con chớ lấy làm phiền muộn, chỉ đơn giản là hãy tiếp tục đi con đường của mình có vẻ như là không có điều gì xảy ra cả.
      

Gieo gì gặt nấy

Một lần Đức Phật đi qua một ngôi làng của những người căm ghét Phật giáo. Những người dân ở đây đổ ra đường vây lấy Ngài và nói những lời sỉ nhục. Những học trò của Ngài đã cảm thấy bực tức và ra sẵn sàng chửi lại nhưng trước mặt Thầy họ vẫn cố giữ vẻ bình tĩnh.  Còn những gì mà Thầy nói ra thì làm cho cả học trò lẫn những kẻ chống đối đều cảm thấy lúng túng. 
Ngài quay lại nói với những học trò của mình:
- Các con đã làm ta thất vọng. Những người này làm việc của họ. Họ đang giận dữ. Dường như ta là kẻ thù của tôn giáo họ và những giá trị đạo đức của họ. Những người này phỉ báng ta là điều tất nhiên nhưng mà các con. Tại sao các con lại giận dữ? Tại sao các con lại làm vậy cơ chứ? Các con làm cho họ làm theo. Các con bị phụ thuộc vào họ. Chẳng phải như thế là mất tự do sao?

Những người dân ở ngôi làng kia cảm thấy bối rối trước phản ứng như vậy. Khi họ bắt đầu im lặng, Ngài nói với họ:
- Các người đã nói hết chưa? Nếu các người chưa nói hết thì hãy nói ra tất cả những gì muốn nói khi chúng tôi quay trở lại nơi này.
Những người dân ở đây trả lời:
- Nhưng chúng tôi đã sỉ nhục ông, sao ông không giận gì chúng tôi cả?
Đức Phật nói:
- Các người là tự do. Những gì các người làm là quyền của các người. Ta không phản ứng gì với việc này. Ta cũng là người tự do. Không ai bắt ta phải có phản ứng và không ai có thể ảnh hưởng đến ta hay điều khiển ta. Những hành động của ta xuất phát từ bên trong. Và ta muốn hỏi một câu có liên quan đến các người. Ở ngôi làng trước làng này, dân chúng đã đón chào ta, họ mang theo hoa và bánh kẹo, trái cây. Ta nói với họ: “Cám ơn, nhưng mà chúng ta đã ăn no. Xin mọi người hãy mang những thứ quà này cùng với lời cám ơn của ta về nhà”.
Còn bây giờ ta muốn hỏi:
- Những người dân ở ngôi làng ấy sẽ làm gì khi ta trả lại những món quà cho họ?
Một người trong đám đông nói:
- Họ sẽ đem chia những món quà đó cho trẻ nhỏ, cho những thành viên trong gia đình của mình.
- Thế các người sẽ làm gì với những lời sỉ nhục và thóa mạ. Ta không tiếp nhận nó mà trả lại cho các người. Nếu ta trả lại những món quà là bánh kẹo và trái cây thì người ta phải lấy lại. Còn các người thì sẽ làm gì? Ta không nhận những lời thóa mạ của các người, thế nên các người hãy mang nó về nhà và làm gì theo ý muốn.


Mỗi người theo cách của mình

Một hôm Đức Phật cùng những học trò dừng lại nghỉ ở dưới một gốc cây cổ thụ thì có một đoàn người dẫn đến một người mù. Một người trong số họ nói với Đức Phật:
- Chúng con dẫn đến cho Ngài một người mù bởi vì người này không tin vào sự tồn tại của ánh sáng. Người này chứng minh cho mọi người rằng ánh sáng không tồn tại. Người này có một trí tuệ sắc sảo và lập luận logic. Tất cả chúng con biết là ánh sáng tồn tại nhưng chúng con không thuyết phục được người này. Ngược lại, lý lẽ của người này đã làm cho một số người nghi ngờ. Anh ta nói: “Nếu ánh sáng tồn tại thì hãy cho tôi sờ nó, tôi nhận biết đồ vật bằng xúc giác. Hoặc là cho tôi nếm mùi vị, hoặc ngửi nó. Hoặc các người đánh vào nó như đánh trống để cho tôi nghe nó như thế nào”. Chúng con đã mệt mỏi với người này, Ngài hãy giúp chúng con. Đức Phật nói:

- Người mù đúng. Đối với anh ta thì ánh sáng không tồn tại. Tại sao anh ta lại phải tin. Chân lý ở một điều rằng, người này cần thầy thuốc chứ không phải nhà thuyết giáo. Các con phải đưa anh ta đến bác sĩ chứ không phải thuyết phục anh ta.
Nói rồi Ngài gọi thầy thuốc riêng của mình. Người mù hỏi:
- Thế cuộc tranh luận thì sao?
Đức Phật trả lời:
- Con hãy đợi ít lâu, cứ để cho thầy thuốc xem mắt con đã.
Thầy thuốc xem mắt người mù rồi nói:
- Cần ít nhất nửa năm để chữa cho người này sáng mắt.
Đức Phật nói:
- Ngươi hãy ở lại đây cho đến khi chữa cho người này mắt sáng. Khi người này nhìn thấy ánh sáng thì hãy dẫn đến ta.
Nửa năm sau người mù kia được chữa lành, người này chạy đến quì dưới chân Đức Phật. Ngài nói với người này:
- Bây giờ thì có thể tranh luận. Trước đây mỗi người sống trong một hoàn cảnh nên tranh luận là không thể.


Hãy giúp mình trước đã

Một người tìm Đức Phật và nói:
- Tôi là một người rất giàu có, tôi không có con và vợ tôi đã chết sớm. Tôi muốn làm một việc thiện nào đấy. Tôi có thể làm gì cho những kẻ nghèo hèn? Xin hãy nói cho tôi biết.
Nghe xong những lời này, Đức Phật rất buồn và những giọt nước mắt của Ngài chảy dài trên má.
Người giàu có cảm thấy vô cùng bối rối. Người này hỏi:
- Tại sao Ngài rơi nước mắt? Tại vì sao Ngài buồn bã như vậy?
Đức Phật trả lời:
- Rất tiếc là con chưa thể giúp gì được cho ai một khi con chưa giúp được cho mình. “Gang thép” trong người con chưa trở thành vàng, con chưa có được sự cảm thông vì rằng năng lượng của con đang dưới đáy tận cùng. Giờ con muốn giúp đỡ những kẻ nghèo hèn nhưng con chưa đủ sự giác ngộ. Con chưa có được cái điểm giữa, nơi mà lòng thương, sự cảm thông từ đó đi ra.


Nhớ lại mình

Đức Phật kể cho các học trò nghe một câu chuyện về một con sư tử cái thời thượng cổ đã nhảy từ ngọn núi này sang ngọn núi khác. Con sư tử cái này đang mang thai và đã sinh con trong bước nhảy.
Sư tử con rơi vào một bầy cừu và bầy cừu này đã chăm sóc và nuôi nấng nó trưởng thành. Dĩ nhiên, sư tử con này cho mình là cừu, chỉ có điều, nó to lớn và vẻ ngoài thì không giống với ai cả. Có thể, nó là quái thai nhưng nó vẫn lớn lên như vậy.
Một hôm có con sư tử già đi kiếm mồi đã gặp bầy cừu nọ. Sư tử già cảm thấy không tin vào mắt mình: giữa bầy cừu nhỏ con có một con sư tử to lớn nhưng bầy cừu không hề sợ nó. Sư tử già đuổi theo bầy cừu và cuối cùng cũng bắt được sư tử con.
- Hãy để cho ta trở về với những người anh em – sư tử con nài nỉ.
Nhưng sư tử già kéo nó đến một hồ nước trong vắt và phẳng lì như mặt gương, bắt sư tử con nhìn vào bóng của mình trong gương nước lặng, còn bên cạnh là bóng của sư tử già. Trong cái khoảnh khắc nhận ra mình là ai, sư tử con đã gầm lên làm rung chuyển cả khu rừng. Trước đây nó chưa bao giờ gầm lên như vậy cả bởi vì nó luôn coi mình là cừu và chưa bao giờ nghi ngờ điều này.
Sư tử già nói:
- Việc của ta ta đã làm xong. Bây giờ tất cả phụ thuộc vào con. Liệu con có muốn quay về với chủng tộc mình?
Sư tử con cười nói:
- Xin lỗi, ta đã hoàn toàn quên mất rằng mình là ai. Cám ơn ngài đã giúp cho ta nhớ lại.


Cái nhìn trong sáng


Ngày xưa ở Trung Hoa có một nhà sư của Đạo Pháp (Đạt-ma). Nhà thơ Tô Đông Pha chơi thân với nhà sư này. Một hôm Tô Đông Pha ngồi bắt chước kiểu Phật ngồi và hỏi nhà sư:
- Trông tôi giống ai?
- Ông giống Bụt – nhà sư trả lời.
Một lúc sau Tô Đông Pha nói với nhà sư:
- Thế sư có biết là sư giống ai không? Sư giống một cục cứt!
Nhà sư không hề cảm thấy bối rối vì điều này, vẫn tiếp tục cười vui vẻ. Tô Đông Pha hỏi nhà sư:
- Tại vì sao sư không hề giận gì cả?
Nhà sư trả lời:
- Ai giác ngộ được bản chất của Bụt ở trong mình, sẽ nhìn thấy Bụt ở trong mỗi con người. Còn ai trong suy nghĩ chỉ có cứt với phân thì sẽ nhìn thấy mỗi con người đều giống với một cục cứt.


Tiếp nhận cuộc sống

Ngày xưa trong một ngôi làng nhỏ ở Nhật, nơi thiền sư Hakuin sống và hành đạo, có một cô gái trẻ mang thai. Bố mẹ cô gái bắt ép cô phải khai ra người tình, để tránh sự trừng phạt của gia đình, cô gái đã khai đấy là thiền sư Hakuin.
Ông bố của cô gái im lặng không nói gì nhưng đến ngày cô gái sinh ông liền mang đứa bé đến trao cho Hakuin cùng với những lời phỉ báng nhục nhã mà chính bản thân ông cũng đã chịu đựng khi sự việc xảy ra với đứa con gái của ông. Sau khi nghe hết những lời buộc tội, vị tu sĩ chỉ thốt lên: “Thế à?” rồi nhận lấy đứa trẻ sơ sinh.

Kể từ ngày đó, dù có đi đâu, vị tu sĩ luôn quấn đứa bé trong ống tay của chiếc áo choàng nhàu nát, mang đứa bé theo mình. Ngày cũng như đêm, mưa cũng như nắng, vị tu sĩ đến những nhà hàng xóm xin sữa để nuôi đứa bé. Nhiều học trò của ông coi ông là vị thiền sư đổ đốn, hư hỏng và lần lượt từ bỏ ông. Còn Hakuin vẫn lặng lẽ, không nói một lời nào.
Một năm sau, mẹ của đứa bé không chịu nổi cảnh xa con, đã nói sự thật với bố mẹ mình về cha của đứa bé là chàng trai bán cá ngoài chợ. Thế là ông bố của cô gái liền chạy đến Hakuin xin ông tha thứ cho chuyện xảy ra và xin đem đứa bé về. Hakuin cũng chỉ nói: “Thế à?” và trao lại đứa bé.
Đấy là sự tiếp nhận cuộc sống, đấy là sự đồng thuận. Hãy tiếp nhận cuộc đời như vốn có, khi đó, bạn sẽ thoát khỏi những mong muốn và cảm thấy niềm vui mà không cần có nguyên nhân. Khi niềm vui có nguyên nhân thì niềm vui này không được lâu. Nếu niềm vui mà không có bất cứ nguyên nhân nào thì niềm vui này là mãi mãi.


Cuộc đời chứ không phải logic

Ngày vị sư thầy của mình chết thiền sư Nghĩa Huyền ở chùa Lâm Tế đã khóc, làm cho mọi người ngạc nhiên. Nước mắt của ông chảy dài trên má làm cho một người băn khoăn hỏi:
- Sao ông làm thế? Bao nhiêu con người có mặt ở đây cảm thấy choáng vì hành xử của ông: “Thật không thể như thế được! Lâm Tế Nghĩa Huyền khóc! Chúng tôi vẫn nghĩ là ông hoàn toàn không bị ràng buộc, linh hồn ông hoàn toàn tự do. Thế mà bây giờ ông khóc! Ông vẫn dạy chúng tôi rằng linh hồn là bất tử, rằng thể xác chỉ là cái vỏ vật chất mà sẽ hao mòn theo thời gian rồi trở về với cát bụi. Thế mà tại sao hôm nay ông khóc?” Và chúng tôi là những người bạn cũng không thể hiểu được. Ông từng dạy rằng chìa khóa để mở mọi cánh cửa là cái tâm không dính chấp, không quyến luyến. Tại sao ông lại lưu luyến người thầy của mình?
Lâm Tế Nghĩa Huyền trả lời:
- Câu hỏi của các người logic. Nhưng mà tôi biết làm sao được? Nước mắt bỗng nhiên trào ra và tôi khóc. Với chính mình thì việc tôi khóc cũng là một phát hiện. Tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên. Nhưng tôi biết làm sao được? Cuộc sống biểu lộ trong con người tôi và tôi không thể đè nén mà tôi tiếp nhận nó.


Lâm Tế Nghĩa Huyền

Nếu như cái chết là kỳ quái thì nghĩa là cả cuộc đời bạn đã phí hoài. Cái chết phải là một sự tiếp nhận thanh thản, một sự thỏa mãn đi vào hư không, một sự vĩnh biệt hài lòng với người thân, bè bạn, với thế giới cũ. Trong cái chết không nên có một sự bi đát nào.
Ngày thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền lâm chung, hàng nghìn học trò đến để nghe những lời thuyết pháp cuối cùng nhưng thiền sư chỉ nằm, vẻ mặt rất vui nhưng không nói một lời nào. Một người bạn của ông nói:
- Nghĩa Huyền, chẳng lẽ anh quên là cần nói vài lời cuối à? Tôi vẫn thường nói là trí nhớ của anh đã kém. Anh chuẩn bị đi, anh quên à?
Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền nói:
- Hãy nghe đây.
Lúc này có hai con sóc đuổi nhau, chạy sột soạt trên mái nhà và ông nói:
- Chao ôi đẹp quá,  – rồi chết.
Trong cái khoảnh khắc ông nói rằng: “Hãy nghe đây”, có một sự im lặng tuyệt đối. Tất cả nghĩ rằng ông sẽ nói những điều gì đấy ghê gớm lắm, nhưng chỉ có hai con sóc đuổi nhau, chạy sột soạt trên mái nhà… thì ông đã mỉm cười rồi chết. Nhưng ông đã để lại lời nhắn gởi cuối cùng: đừng biến sự vật thành nhỏ và lớn, bình thường và quan trọng. Tất cả đều quan trọng. Và trong cái khoảnh khắc ấy, đối với ông, cái chết cũng quan trọng như là hai con sóc đang đuổi nhau trên mái nhà vậy, không có gì khác nhau. Trong sự tồn tại mọi thứ đều tương đồng. Đấy chính là triết học của ông, là học thuyết của cuộc đời ông – không có gì vĩ đại và không có gì nhỏ bé, tất cả phụ thuộc vào chính mình, anh sẽ làm gì với nó.


Say rượu

Ngày xưa ở Ai Cập có một vị tu sĩ sống trong sa mạc. Trong sa mạc này có một con quỉ luôn tìm mọi cách cám dỗ, cản trở bước đường tu của ông. Một hôm quỉ nói với tu sĩ rằng nếu ông thực hiện một trong ba điều lầm lỗi thì quỉ sẽ từ bỏ ông, ông sẽ được tự do theo đuổi bước đường tu mà không còn ai cản trở. Ba điều lầm lỗi đó là: giết người, phóng đãng và say rượu.

- Chỉ cần một lần – quỉ nói – và ngươi sẽ yên ổn suốt đời.
Vị tu sĩ nghĩ thầm: “Giết người – đấy là điều khủng khiếp, đấy là cái ác lớn nhất và sẽ bị trừng phạt theo giáo luật cũng như luật dân sự của đời. Hủ hóa – là điều xấu hổ, nhơ nhuốc, làm bẩn thân xác mà bấy lâu ta vẫn lo giữ gìn cho thanh sạch. Say rượu một lần – đấy là lỗi lầm bé nhất vì rằng con người ta sẽ tỉnh lại sau khi say. Ta sẽ chọn làm điều này để được yêu thân lâu dài trên sa mạc”.
Thế là vị tu sĩ chọn một vài thứ đồ có thể bán được rồi đến một thành phố gần nhất bán lấy tiền và đi vào quán. Theo sự sắp xếp của quỉ, có một người phụ nữ xinh đẹp và lẳng lơ ghé đến trò chuyện với tu sĩ. Khi đã ngà say, tu sĩ đi theo người phụ nữ này và làm cái điều lầm lỗi với người phụ nữ. Chồng của người này đi đâu đó bỗng quay trở về bắt gặp đã xông vào đánh tu sĩ nhưng tu sĩ trong cơn say, bằng một cú đấm chết người đã giết chết người đàn ông nọ.
Như vậy, vị tu sĩ đã thực hiện cả ba điều lầm lỗi: hủ hóa và giết người, hai tội lỗi này xuất phát từ say rượu. Đấy là những điều mà khi tỉnh táo ông tìm mọi cách tránh nhưng chỉ trong cơn say, bao nhiêu cố gắng trong nhiều năm đeo đuổi đã trở về con số không.


Đi đâu đấy

Ngày xưa ở nước Nhật có hai ngôi đền ở gần nhau nhưng thù nghịch với nhau như mọi ngôi đền khác ở mọi thời đại. Những tu sĩ thậm chí không nhìn mặt nhau và trong một thời gian lâu hàng thế kỷ, không bao giờ họ nói chuyện với nhau.

Mỗi vị tu sĩ có một thằng bé để giúp việc và tất cả người lớn đều sợ rằng những đứa bé có thể kết bạn với nhau. Một nhà sư dặn thằng bé của mình:
- Con nhớ là không bao giờ chuyện trò gì với những thằng bé của đền bên đấy nhé. Họ là những kẻ đầy nguy hiểm, hãy tránh xa họ như bệnh dịch.
Thằng bé nghe nói vậy lại cảm thấy thích… bởi vì nó đã mệt vì phải nghe quá nhiều những lời thuyết giáo mà nó không hiểu được. Không có ai để có thể chơi đùa hay trò chuyện gì cả. Khi nghe câu: “Con nhớ là không bao giờ chuyện trò gì với những thằng bé của đền bên đấy nhé” thì trong lòng nó trỗi dậy một sự cám dỗ. Ngày hôm sau, nhìn thấy đứa bé của đền bên đi ngoài đường, nó liền hỏi:
- Đi đâu đấy?
Đứa bé kia vốn thích triết lý, nghe câu hỏi như thế, nó trả lời:
- Đi đâu ư? Không ai đi đâu mà cũng chẳng ai về đâu. Ngọn gió đưa đi đâu, ta đi đó…
Nó từng nghe thầy của mình nói rằng Đức Phật sống như chiếc lá khô và ngài đi theo cơn gió thổi. Thế là nó cũng nói:
- Ta là chiếc lá khô. Gió thổi ta về đâu, ta đến đó…
Thằng bé bên này nghe thấy vậy thì không biết nói gì thêm. Nó nghĩ bụng: “Thầy của ta quả đúng. Thầy cấm ta nói chuyện với những người này – họ quả là nguy hiểm. Ta hỏi nó: “đi đây đấy?”, thực ra là ta đã biết nó đi đâu rồi, bởi vì cả hai thằng hằng ngày vẫn đi ra chợ mua rau. Chỉ cần một câu trả lời đơn giản, thế mà”.
Thằng bé quay trở về nói với thầy của mình:
- Con xin lỗi thầy. Thầy đã cấm nhưng con đã không nghe thầy. Vì điều cấm mà con bị cám dỗ. Lần đầu tiên con nói chuyện với một con người nguy hiểm. Con chỉ hỏi nó một câu đơn giản là: “Đi đâu đấy?” thế mà nó nói nghe rất lạ lùng: “Không ai đi đâu, chẳng ai về đâu… Ta là chiếc lá… Gió đưa đi đâu, ta đi đó…”
Thầy nói:
- Ta đã dặn con rồi. Nhưng thôi được, ngày mai con lại ra đấy đợi nó, lại hỏi nó: “Đi đâu đấy?” và khi nó lại nói như vậy thì con hãy bảo nó: “Ừ, thì ngươi là chiếc lá khô, cũng như ta đây. Nhưng khi không có gió thì ngươi biết đi đâu?” phải làm cho nó bối rối, phải chiến thắng nó. Ngày mai ta phải chiến thắng nó!
Sáng hôm sau thằng bé thức dậy và nhắc đi nhắc lại câu trả lời trước khi ra đường. Khi nhìn thấy đứa bé của đền bên, nó liền hỏi:
- Đi đâu đấy?
Nhưng đứa bé đền bên nói:
- Bàn chân đưa đi đâu, ta đi đấy…
Không nhắc gì đến gió, không nhắc gì đến chiếc lá… biết làm sao bây giờ? Câu trả lời mà nó học thuộc lòng giờ trở thành vô nghĩa. Một lần nữa đành chịu thua và nó lại quay về kể với thầy những gì xảy ra. Thầy bảo:
- Ta đã nói rồi, chúng nó là những con người nguy hiểm, ta biết điều này bằng kinh nghiệm đã bao đời. Nhưng mà không được bó tay. Ngày mai con lại tiếp tục hỏi nó: “Đi đâu đấy?” và khi nó trả lời: “Bàn chân đưa đi đâu, ta đi đó” thì hãy nói với nó: “Thế nếu không có chân thì sao?” Phải làm cho nó im lặng.
Hôm sau, thằng bé lại hỏi:
- Đi đâu đấy? – và đợi câu trả lời.
Đứa bé kia nói:
- Ta đi ra chợ mua rau.
Con người ta thường hành động theo kinh nghiệm từ quá khứ, mà cuộc sống thì cứ tiếp tục đổi thay. Cuộc sống không có những tình huống tương đồng với kết luận của bạn. Bởi thế mà cuộc sống thường làm cho những người đầy kinh nghiệm nhiều khi luống cuống. Vẫn có những câu trả lời định sẵn trong Kinh Vệ Đà, Kinh Phật, Kinh Thánh, Kinh Koran… Tuy nhiên, cuộc sống không bao giờ đi hỏi một câu hỏi đến hai lần.


Số phận giữ chúng ta ở trong tay

Oda Nobunaga là một lãnh chúa, một vị tướng tài danh trong thời kỳ Chiến Quốc của lịch sự Nhật Bản. Ông là người có công lớn trong việc thống nhất Nhật Bản, chấm dứt thời kỳ chiến lọan kéo dài trên khắp nước Nhật.
Một lần Nobunaga quyết định tấn công địch, mặc dù số lượng quân địch đông gấp cả chục lần. Nobunaga tin rằng sẽ thắng nhưng quân lính của ông nghi ngờ. Trên đường hành quân ông dừng lại ở một ngôi đền Shinto và nói với quân lính:
- Sau khi cầu nguyện xong ta sẽ ném một đồng xu. Nếu mặt ngửa là đại bàng thì chúng ta sẽ thắng. Số phận giữ chúng ta ở trong tay.
Nobunaga đi vào đền cầu nguyện trong im lặng. Sau đó ông bước ra và tung một đồng xu: mặt ngửa là con đại bàng. Quân lính của ông vững tin xông vào trận đánh và họ đã chiến thắng.
Sau trận đánh, một vị tướng nói với Nobunaga:
- Không ai có thể thay đổi được số phận.
- Tất nhiên là không thể - Nobunaga vừa trả lời vừa cho vị tướng nọ xem đồng xu ở hai phía đều là đại bàng.


Chàng tiều phu và ông tiên

Ngày xưa có chàng tiều phu quanh năm đốn củi bên bờ suối. Một hôm chàng sơ ý để rơi chiếc búa chặt củi của mình xuống vực sâu. Đang ngồi ôm mặt khóc nỉ non thì có một ông tiên hiện ra và hỏi chàng:
- Tại vì sao con khóc?
- Chiếc búa chặt củi của con bị rơi xuống vực, con không biết lấy gì để chặt củi kiếm tiền nuôi vợ nuôi con.
Thế là ông tiên lấy từ dưới vực lên một chiếc búa chặt củi bằng vàng.
- Đây là chiếc búa của con phải không?
- Dạ thưa, không phải ạ - chàng tiều phu trả lời.
Ông tiên lại lấy lên một chiếc búa bằng bạc và hỏi:
- Thế chiếc búa này có phải của con không?
- Cũng không phải ạ.
Cuối cùng ông tiên lấy lên từ dưới vực sâu một chiếc búa bằng sắt.
- Dạ đúng ạ, đây là chiếc búa của con – chàng tiều phu mừng rỡ trả lời.
- Ta thấy con là người trung thực – ông tiên nói – con cứ giữ lại cả ba chiếc búa cho mình.
Từ dạo đấy cuộc sống của chàng tiều phu trở nên khá hơn trước nhưng một hôm cả hai vợ chồng đốn củi, thật không may, vợ của chàng bị rơi xuống vực sâu. Chàng tiều phu lại chỉ biết ngồi khóc nỉ non. Ông tiên lại hiện lên hỏi:
- Tại vì sao con khóc?
- Vợ con bị rơi xuống vực, con thật là bất hạnh!
Thế rồi ông tiên vớt lên một cô gái đẹp như tiên sa.
- Đây có phải là vợ của con không?
- Vâng ạ, đây là vợ của con – chàng tiều phu sung sướng trả lời.
- Con nói dối ta, tại vì sao lại như vậy?
- Dạ, có một chút ngộ nhận – chàng tiều phu trả lời. Nhưng giá như con nói rằng đây không phải là vợ của con thì ông lại đưa cho con một cô gái xinh đẹp khác rồi con lại cũng trả lời không phải là vợ của con. Thế rồi ông vớt lên vợ của con và con sẽ trả lời đúng là vợ của mình. Khi đó ông cũng lại sẽ cho con lấy cả ba người thì con không biết sẽ làm gì với họ. Con không thể đốn củi kiếm tiền nuôi nổi cả ba người. Và như thế, cả bốn chúng con đều bất hạnh.
Kết luận rút ra từ câu chuyện trên: khi đàn ông nói dối thì họ vẫn nói dối rất đàng hoàng và có lợi cho tất cả! 


Chiếc bình đầy

Vị giáo sư triết học đứng trên giảng đường cầm trong tay một chiếc bình to và trong suốt. Sau đó ông lấy những viên đá to bằng nửa nắm tay xếp đầy vào chiếc bình này rồi hỏi các sinh viên: “Bình đầy hay không?” Các sinh viên liền trả lời rằng: bình đầy.
Tiếp theo đấy vị giáo sư lấy một túi đậu đen đổ vào chiếc bình kia rồi lắc qua lắc lại. Những hạt đậu chui vào những khe hở giữa những viên đá. Giáo sư tiếp tục hỏi sinh viên: “Bình đầy hay không?” Các sinh viên lại trả lời rằng: bình đầy.
Khi đó giáo sư lấy những hạt cát nhỏ tiếp tục cho vào bình và tất nhiên, những hạt cát đã lấp kín chiếc bình. Giáo sư tiếp tục hỏi sinh viên: “Bình đầy hay không?” Và các sinh viên lại trả lời rằng: bình đầy.
Vị giáo sư lấy một cốc nước rót vào bình cho đến giọt cuối cùng. Những sinh viên của ông cười ầm lên. Vị giáo sư nói:
- Tôi muốn cho các em hiểu rằng: chiếc bình – đó là cuộc đời của các em. Những viên đá – đấy là những thứ quan trọng nhất của cuộc đời: là sức khỏe, gia đình, bạn bè, con cái – là những thứ cần thiết để cho cuộc đời của các em vẫn đầy ngay cả khi những thứ còn lại đều đã đánh mất. Những hạt đậu – đấy là những thứ quan trọng đối với các em: đó là công việc, là nhà, xe… Những hạt cát – là những thứ còn lại, những thứ vặt vãnh.
Nếu đầu tiên các em đem cát đổ đầy bình thì sẽ không còn chỗ cho những hạt đậu và những viên đá. Trong cuộc đời cũng vậy, nếu các em dùng tất cả thời gian và sức lực cho những thứ vặt vãnh thì sẽ không chỗ cho những thứ quan trọng. Các em hãy làm những gì mang lại cho các em hạnh phúc: chăm sóc vợ con, gặp gỡ bạn bè. Vẫn còn thời gian cho công việc, sửa nhà, rửa xe… Trước hết hãy lo những viên đá, nghĩa là những thứ quan trọng nhất, xác định những ưu tiên trong cuộc đời, còn tất cả những thứ còn lại – chỉ là những hạt cát.
Một sinh viên giơ tay hỏi rằng: thế ý nghĩa của nước là gì? Vị giáo sư mỉm cười:
- Em hỏi câu này rất hay. Thầy đã đổ vào bình một cốc nước là muốn chứng minh cho các em thấy rằng cho dù cuộc đời của các em có bận bịu đến đâu, đầy ắp đến đâu thì vẫn luôn còn chỗ để mà thư giãn.


Cây thập ác của con

Ngày xửa ngày xưa có một người đàn ông nhận thấy rằng số phận của mình thật quá nặng nề. Người này hỏi Chúa Trời:

– Chúa ơi, cây thập ác của con quá nặng, con không vác nổi. Thập ác của những người mà con biết quả là nhẹ nhàng hơn. Xin Ngài đổi cho con cái khác nhẹ hơn được không?
Đức Chúa Trời trả lời:
– Được, con cứ việc đến kho thập ác của ta chọn lấy cái nào mà con thích.
Người đàn ông đến kho thập ác để lựa chọn: chọn đi chọn lại vẫn chưa thấy cái nào vừa ý, cái nào cũng có vẻ quá nặng. Sau khi đã thử hết tất cả, người đàn ông bỗng để ý thấy ở cửa ra vào có cây thập ác trông có vẻ nhẹ hơn nhiều và hỏi Chúa Trời:
– Ngài cho con chọn cái này nhé.
– Chúa Trời nói:
Thì đấy là cây thập ác của con đấy, con đã để nó ở phía ngoài cửa trước khi vào thử những cái khác trong kho.


Giai thoại về vua David

Khi vua David cảm thấy mình đã đến ngày gần đất xa trời, ông cho gọi con trai mình – nhà vua tương lai Solomon đến.
- Con đã đi rất nhiều nơi, đã gặp rất nhiều người – vua David nói. – Con có suy nghĩ gì về thế giới này?
- Tất cả những nơi mà con đến – Solomon trả lời – con chỉ thấy sự bất công, sự ngu ngốc và cái ác ngự trị. Tại vì sao thế giới này lại sinh ra như vậy, nhưng mà con rất muốn thay đổi nó.

- Tốt. thế con có biết phải làm như thế nào không?
- Thưa cha, không ạ.
- Thế thì con hãy nghe đây.
Và vua David kể cho con trai – vị vua tương lai nghe một câu chuyện.
Ngày xửa ngày xưa, thuở khai thiên lập địa, trên trái đất này chỉ có một dân tộc. Cai trị dân tộc này là một vị hoàng đế mà tên ông đã bị lãng quên theo thời gian. Vị hoàng đế có bốn người con, tên tuổi của họ cũng đã không còn. Trước khi chết, vị hoàng đế cho gọi cả bốn người con và dặn họ hãy mang đến cho con người sự Công Bằng, sự Khôn Ngoan, Hạnh Phúc và Cái Tốt.
Rồi ông giải thích.
Sự Bất Công sinh ra là do con người ta đối xử với thế giới một cách thiên vị. Để có Công Bằng, con người phải tránh xa dục vọng quyền lực và xử sự mình có vẻ như thế giới này tồn tại độc lập với anh ta. “Thế giới tồn tại, còn tôi không tồn tại” – đấy là nguyên tắc của một người công bằng.
Sự Ngu Ngốc sinh ra là do con người xét đoán thế giới rộng lớn và đa dạng chỉ theo hiểu biết của mình. Con người không thể nào tát cạn đại dương, cũng như không thể nào nhận thức hết được cả thế giới. Nâng cao kiến thức của mình, con người chỉ đi từ sự ngu ngốc nhiều hơn đến sự ngu ngốc ít hơn. Bởi thế, người khôn ngoan là người đi tìm chân lý không phải ở bên ngoài mà trong chính bản thân mình. “Tôi tồn tại mà thế giới không tồn tại” – là nguyên tắc của một người khôn ngoan.
Cái Ác xuất hiện khi con người một mình đối chọi lại cả thế giới. Khi vì những mục đích của mình, con người can thiệp vào quá trình tự nhiên của sự vật, bắt tất cả phải theo ý mình. Con người càng tỏ ra quyết tâm cai trị cả thế giới thì thế giới càng quyết liệt chống trả lại, vì rằng cái các sẽ sinh ra cái ác. “Thế giới tồn tại và tôi tồn tại. Tôi hòa nhập vào thế giới này” – đấy là nguyên tắc của những ai muốn làm điều tốt.
Và cuối cùng, con người cảm thấy Bất Hạnh là người cảm thấy thiếu thốn nhiều thứ. Sự thiếu thốn này càng lớn thì càng cảm thấy bất hạnh. Mà bởi vì con người luôn thiếu một cái gì đó nên để thỏa mãn sự ước muốn, con người chỉ đi từ sự bất hạnh lớn hơn đến sự bất hạnh nhỏ hơn. Người hạnh phúc là người có trong mình cả thế giới, cảm thấy mình đầy đủ. “Thế giới tồn tại và tôi tồn tại. Cả thế giới ở trong tôi” – đấy là nguyên tắc của Hạnh Phúc.
Và như vậy, vị hoàng đế đã truyền lại những nguyên tắc của Công Bằng, Khôn Ngoan, Cái Tốt và Hạnh Phúc cho những đứa con của mình rồi chết. Sau đó, những đứa con cảm thấy những nguyên tắc này trái ngược với nhau nên họ quyết định hành động theo cách của mình. Họ đem chia toàn dân ra bốn phần bằng nhau rồi mỗi người cai trị một phần. Người thứ nhất mang lại cho nhân dân mình sự Công Bằng, người thứ hai – sự Khôn Ngoan, người thứ ba – Cái Tốt, người thứ tư – Hạnh Phúc. Kết cục là trên trái đất có các dân tộc: Công Bằng, Khôn Ngoan, Tốt và Hạnh Phúc.
Theo thời gian, các dân tộc này giao lưu với nhau. Những người Công Bằng hiểu rất rõ thế nào là công bằng nhưng không thể biết thế nào là khôn ngoan, thế nào là tốt và thế nào là hạnh phúc. Bởi thế, những người Công Bằng đã gây ra sự ngu ngốc, cái ác và bất hạnh. Những người Khôn Ngoan gây ra sự bất công, cái ác và bất hạnh. Những người Tốt gây ra sự bất công, sự ngu ngốc và bất hạnh. Còn những người Hạnh Phúc gây ra sự bất công, sự ngu ngốc và cái ác. Và vua David kết thúc câu chuyện ở đây.
- Bởi thế mà con cảm thấy thế giới này xấu xa và ghê tởm.
- Vâng, con hiểu tất cả – Solomon trả lời – cần phải dạy cho mọi người cùng một lúc cả Công Bằng, Hạnh Phúc, Lòng Tốt và Khôn Ngoan. Con sẽ sửa những sai lầm của tiền nhân.
- Tốt, nhưng con nên hiểu rằng thế giới đã thay đổi. Sự bất công, cái ác và bất hạnh đã hòa trộn vào giữa những con người. Và chúng sinh ra nỗi sợ hãi. Để chống lại những cái xấu này, trước hết phải thắng được nỗi sợ hãi.
- Thế cha hãy giải thích cho con phải đấu tranh với nó như thế nào.
- Nỗi sợ hãi cũng rất khác nhau. Nhưng công thức chung của nó thế này: khi vui sướng người ta sợ cái chết, còn khi đau khổ người ta sợ bất tử. Và chỉ những ai biết được cái giá của vui sướng lẫn đau buồn thì sẽ không sợ gì cái chết cũng như bất tử.


Hai người trong ống khói

Thập niên 20 thế kỷ XX ở New York có một chàng trai trẻ tìm đến một giáo sĩ đạo Do Thái và nói rằng chàng muốn tìm hiểu về kinh Talmud.

- Con biết tiếng Aramaic không?
- Không ạ.
- Thế tiếng Hebrew?
- Không ạ.
- Thế hồi nhỏ đã học Torah chưa?
- Dạ chưa. Nhưng thầy yên tâm. Con đã tốt nghiệp khoa triết Đại học Berkeley và đã bảo vệ luận án về logic của triết học Socrates. Nhưng bây giờ con muốn bổ túc phần còn thiếu trong kiến thức của mình nên con muốn tìm hiểu thêm về kinh Talmud.
- Con chưa sẵn sàng để học Talmud đâu – giáo sĩ nói – đấy là quyển sách sâu sắc nhất trong số những gì do con người viết ra. Nhưng nếu con cứ năn nỉ thì ta sẽ kiểm tra logic của con, nếu được thì ta đồng ý dạy con.
Chàng trai trẻ đồng ý và giáo sĩ bắt đầu.
- Hai người đi trong một đường ống dẫn khói. Một người bước ra với gương mặt sạch còn người kia – mặt dính đầy nhọ. Ai trong số họ sẽ đi rửa mặt?
Chàng trai trẻ ngạc nhiên.
- Đây là câu kiểm tra logic ư?!
Vị giáo sĩ gật đầu.
- Tất nhiên là người mặt dính đầy nhọ sẽ đi rửa mặt.
- Không đúng. Con hãy nghĩ cho thật logic mà xem: người mặt dính đầy nhọ sẽ nhìn vào người có khuôn mặt sạch và nghĩ rằng mặt của mình cũng sạch như thế. Còn người mặt sạch nhìn sang người mặt dính đầy nhọ sẽ nghĩ rằng mặt của mình cũng thế nên vội vàng đi rửa mặt.
- Láu cá thật! Chàng trai tỏ vẻ khâm phục và đề nghị một câu kiểm tra nữa.
- Được thôi. Hai người đi trong một đường ống dẫn khói. Một người bước ra với gương mặt sạch còn người kia – mặt dính đầy nhọ. Ai trong số họ sẽ đi rửa mặt?
- Thì vừa trả xong đấy thôi ạ - người có gương mặt sạch.
- Không đúng. Cả hai người đều đi rửa mặt. Con hãy nghĩ xem: người mặt sạch sẽ nhìn sang người mặt bẩn và nghĩ rằng mặt của mình cũng bẩn. Còn người mặt bẩn thấy người kia đi rửa mặt thì sẽ hiểu rằng mặt của mình bẩn nên cũng đi rửa mặt.
- Thế mà con không nghĩ đến! Quả thật con đã sai về logic. Hãy ra cho con một câu kiểm tra nữa đi ạ.
- Nhất trí thôi. Hai người đi trong một đường ống dẫn khói. Một người bước ra với gương mặt sạch còn người kia – mặt dính đầy nhọ. Ai trong số họ sẽ đi rửa mặt?
- Thì… Cả hai người cùng đi rửa mặt.
- Không đúng. Không ai đi rửa mặt cả. Con hãy nghĩ cho thật logic xem: người mặt bẩn nhìn sang người mặt sạch và không đi rửa mặt. Còn người mặt sạch thấy người mặt bẩn không đi rửa mặt sẽ hiểu rằng mặt của mình sạch nên không đi rửa mặt.
Chàng trai cảm thấy thất vọng hoàn toàn.
- Nhưng mà con có thể học Talmud được. Thầy hãy hỏi con điều gì khác đi.
- Thôi được. Hai người đi trong một đường ống dẫn khói. Một người bước ra với gương mặt sạch còn người kia – mặt dính đầy nhọ. Ai trong số họ sẽ đi rửa mặt?
- Ôi, lạy Chúa! Không ai đi rửa mặt cả!!!
- Không đúng. Bây giờ thì con đã hiểu rằng kiến thức logic của triết học Socrates còn chưa đủ để mà học kinh Talmud. Con hãy nghĩ lại mà xem: làm gì có chuyện hai người cùng đi trong một đường ống dẫn khói ấy mà một người dính đầy nhọ còn người kia thì không?! Bởi vì đây là một câu hỏi vô nghĩa ngay từ đầu, nếu con mất thời gian để đi trả lời những câu hỏi vô nghĩa thì toàn bộ câu trả lời của con sẽ là vô nghĩa vậy.
Truyền thống Do Thái không phủ nhận tư duy trìu tượng về nguyên tắc. Các nhà thông thái có gắng dự tính tất cả mọi tình huống đã được kinh Talmud xem xét đến, đôi khi những tình huống này có ít khả năng xảy ra. Nhưng tự thân vấn đề đem ra nghiên cứu phải có ý nghĩa cụ thể và điểm tựa vững vàng trong đời sống thực tế.


Tất cả đều là Tương đối

Xem xét một số tư tưởng, học thuyết nổi tiếng nhất của những vĩ nhân người Do Thái chúng ta thấy: Moses nói rằng tất cả là Đức Chúa Trời. Giê-su Christ nói rằng tất cả là Tình yêu. Sigmund Freud khẳng định tất cả là Tình dục. Karl Marx cho rằng tất cả là Lao động. Còn Albert Einstein thì đưa ra học thuyết nói rằng tất cả đều là Tương đối.


Đàn ông và đàn bà

Khi Chúa Trời tạo ra đàn ông và đàn bà, Ngài cho họ ở chung trong một nhà. Đàn ông và đàn bà có sức lực như nhau, mỗi khi có xích mích dẫn đến đánh nhau thì không bên nào thắng cả.
Một hôm đàn ông quyết định khiếu nại với Chúa Trời về việc này.
- Thưa Ngài, xin Ngài hãy giúp con mà chỉ có Ngài làm được. Hãy cho con xin thêm một ít sức lực để con có thể thắng được đàn bà, để duy trì trật tự ở cõi trần gian vốn không ai chịu nghe ai cả.
- Được thôi – Chúa Trời trả lời – từ nay ngươi sẽ mạnh hơn đàn bà.
Đàn ông quay trở về hạ giới, vừa đến ngõ đàn ông đã kêu lên:
- Từ nay ta sẽ là người chủ. Chúa Trời đã thêm cho ta sức mạnh nên từ nay em phải nghe lời ta!
Đàn bà đầu tiên không chịu nghe. Họ đánh nhau một lần, hai lần, ba lần và cả ba lần đàn bà đều chịu thua. Đàn ông cảm thấy vô cùng hãnh diện. Nhưng đàn bà vô cùng tức giận đã đến khiếu nại với Chúa Trời.
- Thưa Ngài, con xin Ngài cho con thêm sức lực. Chỉ một ít thôi cũng được.
- Con đã nhận hết tất cả rồi – Chúa Trời trả lời – cơ thể của con chỉ đến vậy. Còn đàn ông thì ta đã cho thêm rồi.
- Sao lại thế ạ? Bây giờ con lúc nào cũng thua nó, trước đây đâu có thế. Con van Ngài, hãy cho con thêm sức lực hoặc hãy bớt đi sức lực của đàn ông.
- Ta đã đem cho thì không lấy lại bao giờ. Con đành phải chấp nhận điều này.
Đàn bà giận dỗi quay trở về. Giữa đường đàn bà gặp một con quỉ và kể cho quỉ nghe nỗi bất hạnh của mình.
- Nàng hãy nghe lời ta – con quỉ khuyên đàn bà – nàng hãy quay trở lại xin Chúa Trời chùm chìa khóa treo trên cánh cửa và đến đây ta sẽ bày cho cách sử dụng.
Đàn bà nghe lời quỉ sứ và quay trở lại:
- Đàn bà – Chúa trời đã hơi nổi giận khi thấy đàn bà quay trở lại – con còn cần gì nữa?
- Thưa Ngài, cho con xin chùm chìa khóa treo trên cánh cửa kia đi ạ!
- Thì lấy đi và đừng làm phiền ta lần nữa nhé!
Đàn bà lấy chùm chìa khóa và vội vàng chạy đi tìm quỉ sứ.
- Chùm chìa khóa này có ba chiếc – quỉ sứ nói – nếu biết cách sử dụng thì chúng sẽ mang lại cho nàng quyền lực và sức mạnh còn nhiều hơn của đàn ông. Chìa thứ nhất nàng hãy dùng để khóa bếp. Đàn ông làm gì cũng nghĩ đến ăn trước hết. Chìa thứ hai – dùng để khóa phòng ngủ. Đàn ông sẽ không hài lòng nếu không cho nó vào phòng ngủ. Chìa thứ ba – dùng để khóa phòng ru con nhỏ. Đàn ông yêu và thích chơi với con trẻ. Nàng hãy nhớ là chưa mở cửa một khi đàn ông chưa biết cách sử dụng sức mạnh của nó theo sự chỉ bảo của nàng.
Đàn bà vội chạy về nhà làm theo những lời mà quỉ sứ đã dặn.
Khi đàn ông biết rằng những cánh cửa trước đây thường xuyên mở toang giờ đã bị khóa lại thì đàn ông nổi giận. Đàn ông dùng sức mạnh để phá nhưng không phá nổi, đành kêu lên:
- Ai khóa cửa lại hả đàn bà? Chìa khóa ở đâu ra?

- Chúa Trời trao cho đấy.
Nghe thấy vậy, đàn ông vội vàng chạy lên kêu với Chúa Trời.
- Thưa Ngài, đàn bà khóa cửa phòng ăn, phòng ngủ, phòng ru con nhỏ mà không cho con vào. Đàn bà nói rằng Ngài đã trao chìa khóa cho nó.
- Đúng thế, đàn bà hỏi xin chìa khóa của ta và quỉ sứ bày cho nó cách sử dụng.
- Vậy thì Ngài cũng cho con xin ba chiếc chìa khóa để mở.
- Ta không thể làm cho ngươi điều này – Chúa Trời nói với người đàn ông – ta đã cho đàn bà và cứ để cho nó giữ chìa khóa. Ngươi cần phải hỏi đàn bà để nó mở cửa cho ngươi.
Đàn ông đành quay trở về. Sau đó đàn ông nài nỉ đàn bà, làm theo những yêu cầu của nó để được mở cửa.
Một hôm đàn ông gạ gẫm:
- Ta và em sẽ chia đôi với nhau. Em chia cho ta một nửa chìa khóa và ta sẽ chia cho em một nửa sức lực.
- Em cần phải suy nghĩ – đàn bà trả lời. Sau đó đàn bà ngồi và suy nghĩ. Ngay lúc đó, quỉ sứ ngó nhìn qua cửa sổ.
- Không bao giờ đồng ý – con quỉ thì thầm – cứ việc để sức lực cho đàn ông, còn nàng phải là người giữ chìa khóa.
Và đàn bà đã nghe theo lời quỉ sứ. Và giao ước đã không xảy ra.
Kể từ ngày đó cho đến bây giờ đàn ông đành phải kiềm chế sức lực của mình nếu muốn chung sống với đàn bà. Và chính vì thế mà đàn ông luôn nhường nhịn còn đàn bà luôn giữ ý kiến của mình.



Lời khuyên

Một cô gái trẻ hỏi nhà thông thái để xin một lời khuyên:
– Có hai người đều rất yêu con. Nhưng con không biết phải xử sự thế nào, bởi vì con tim thì nói chọn người này, còn lý trí lại nói – người kia.
– Con hãy lựa chọn theo sự mách bảo của con tim. Vì rằng, dù rồi đây nếu phải chia tay nhau thì con cũng có thể tự hào mà nói rằng “Ta đã từng yêu người ấy”, còn hơn là thất vọng khi nói “Ta là một con ngốc”.


Sự khác nhau

Một hôm có người phụ nữ hỏi một nhà thông thái:
– Tại vì sao một người đàn ông có nhiều người phụ nữ thì được người đời coi như một anh hùng, thế nhưng, một người phụ nữ mà có nhiều đàn ông thì người đời lại coi cô ta như một con đĩ?
Nhà thông thái trả lời:
– Là bởi vì một chìa khóa mà mở được nhiều ổ khóa thì là một chìa khóa tốt, còn một ổ khóa mà chìa nào cũng mở được thì là một ổ khóa tồi. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét