Thứ Ba, 14 tháng 8, 2018

Giai thoại hay nhất - P. 5


Hoa thuỷ tiên và hoa hồng

Không có loài hoa nào đẹp hơn hoa hồng nhưng gai của hoa hồng làm cho đau đớn...
Không có ai tự yêu mình bằng hoa thuỷ tiên nhưng vẻ dịu dàng của hoa bù lại...

Trong một khu vườn có rất nhiều loại hoa. Tất nhiên trong đó có hoa hồng và hoa thuỷ tiên. Tất cả hoa đều đẹp nhưng người ta để ý nhất đến hai bông hoa hồng. Chúng mọc ở giữa vườn và nổi trội hơn những bông hoa khác. Một bông to hơn – giống như một chàng trai, còn bông kia bé hơn – giống như một cô gái.
Hai bông hoa cùng một cội nên chúng luôn ở bên nhau. Chàng trai thì thầm những lời tình yêu còn cô gái đáp lời nhưng cứ sợ gai làm chàng trai đau đớn. Đôi khi chúng cãi lộn, quay mặt lại với nhau, nhưng cuối cùng vẫn làm lành, cũng tha thứ và vẫn sống bên nhau.
Ở luống hoa bên cạnh có những bông hoa thủy tiên rất đẹp. Trong số này có một bông cao hơn, đẹp hơn những bông hoa khác. Bông hoa này rất kiêu hãnh, không thèm để ý đến một ai xung quanh. Thủy tiên là loài hoa chỉ yêu mình nhưng bông hoa này yêu mình hơn hết. Một hôm có cơn gió mạnh thổi đến làm cho tất cả đều rung rinh, bông thuỷ tiên này rời ánh mắt khỏi mình, nhìn sang bên cạnh thấy bông hoa hồng tuyệt đẹp. Thủy tiên ngắm hoa hồng và quên đi sự hãnh diện của mình. Hoa hồng đã thuộc về bông hoa hồng khác nhưng thủy tiên không ngại. Kể từ ngày ấy thủy tiên chỉ ngắm hoa hồng và cảm thấy rằng có một thứ tình cảm mà trước đây chưa bao giờ có.
Một hôm hai bông hoa hồng cãi nhau. Nàng quay sang nhìn hoa thủy tiên còn chàng lấy gai đâm làm cho nàng khóc. Thủy tiên an ủi hoa hồng, thì thầm những lời yêu thương và tin rằng sẽ đến một ngày chúng sẽ được sống bên nhau.
Một buổi sáng người thợ làm vườn đến cắt hoa đem bán. Người này đi vào giữa vườn, ngắm nghía hai bông hồng rồi cắt chúng. Nhìn bông hoa yêu dấu nằm dưới đất, thủy tiên cúi mình về phía hoa hồng. Bỗng một cơn gió mạnh nổi lên làm cho hoa thủy tiên rơi xuống bên cạnh hoa hồng. Chỉ bây giờ, chỉ trong những giây phút cuối cùng, chúng được ở bên nhau. Chúng nằm ôm lấy nhau trong cơn hấp hối, nhưng đến giây phút cuối vẫn nhắc mãi một lời: I Love You!!!


Xin tiền của bố

Ông bố đi làm về nhà muộn, với vẻ mệt mỏi nhìn thấy thằng con trai 5 tuổi đợi trước cửa.
– Bố ơi, cho con hỏi bố một câu nhé?
– Có chuyện gì vậy con?
– Bố ơi, bố đi làm được bao nhiêu tiền?
– Đấy không phải là việc của con – ông bố ngạc nhiên – con hỏi mà làm gì?
– Con muốn biết. Bố nói đi, một giờ làm việc của bố được bao nhiêu?
– Khoảng 10 ngàn. Mà sao thế?
– Bố ơi – thằng con trai ngước nhìn bố với vẻ mặt rất nghiêm túc – bố cho con xin hai ngàn được không?
– Mày lại xin tiền đi chơi điện tử hả – ông bố kêu lên – đi vào nhà ngay. Tao làm việc cả ngày, còn mày thì ích kỷ thế hả?
Thằng bé lặng lẽ đi vào phòng của mình và đóng cửa. Còn ông bố tiếp tục bực bội vì thằng con trai. Nó dám hỏi bố làm được bao nhiêu để xin tiền. Một lúc sau, ông bố nghĩ lại: biết đâu hôm nay nó cần mua cái gì đấy. Thôi thì cho nó hai ngàn, đã bao giờ nó xin tiền như thế đâu. Ông bố đi vào phòng thằng bé.
– Con ngủ hả? – ông bố hỏi.
– Không bố ạ. Con chỉ nằm vậy thôi – thằng bé trả lời.
– Có lẽ bố đã nặng lời với con. Hôm nay bố làm việc nhiều quá. Bố xin lỗi, còn đây là tiền cho con.
Thằng bé ngồi dậy mỉm cười:
– Hoan hô bố!
Sau đó, nó lấy từ trong gối ra mấy tờ tiền lẻ đã nhàu nát. Ông bố nhìn thấy thằng con có tiền lại tỏ ra giận dữ, còn thằng bé đặt tất cả số tiền của nó rồi nhìn bố.
– Con xin tiền mà làm gì nữa nếu đã có tiền rồi? – ông bố làu bàu.
– Tại vì không đủ ạ. Nhưng bây giờ thì đủ – thằng bé trả lời – Bố ơi, đây là 10 ngàn. Con muốn mua 1 giờ làm việc của bố. Ngày mai bố về nhà sớm hơn nhé, con muốn bố về ăn cơm tối với chúng con.


Tình yêu và lời cầu nguyện

Nhà thần học Osho viết: “Đừng bao giờ can thiệp vào tình yêu và lời cầu nguyện của người khác. Bạn hãy quên đi ý nghĩ rằng bạn biết cách cầu nguyện và bạn biết cách yêu. Chỉ đơn giản một điều là hãy tôn trọng người khác, dù họ có làm điều này như thế nào đi nữa, thì tình yêu và lời cầu nguyện của họ chỉ dành cho họ”.

Một lần trưởng lão Mose đến gần một người đàn ông đang cầu nguyện nhưng người này nói những điều rất vớ vẩn, nhảm nhí làm cho trưởng lão đứng ngây người. Người đàn ông cầu như thế này: “Xin Ngài cho con được đến gần Ngài, con xin hứa là sẽ tắm cho Ngài khi Ngài bẩn, nếu Ngài gặp tai nạn thì con sẽ khâu lại vết thương. Con sẽ đóng cho Ngài đôi giày đẹp tuyệt trần. Con biết nấu ăn và con sẽ chăm sóc Ngài khi Ngài ốm…”
Mose kêu lên:
– Này, anh kia, anh cầu cái gì thế hả? Tại sao lại Ngài gặp tai nạn? Tại sao Ngài bẩn và anh sẽ tắm cho Ngài? Tại sao anh lại nấu ăn và chăm sóc Ngài?… Anh học ai cách cầu nguyện như thế hả?
Người đàn ông thất vọng trả lời:
– Con chẳng học ai cả. Con là kẻ nghèo hèn, vô học, con chỉ biết những thứ mà con hiểu. Tai nạn luôn ám ảnh con thì chắc cũng sẽ ám ảnh Chúa Trời. Còn nấu ăn thì đôi khi bị đau bụng nhưng mà Chúa Trời có lẽ cũng có khi đau. Tất cả những gì trong cuộc sống của con đi vào lời cầu nguyện của con. Nếu Ngài biết cách cầu nguyện cho đúng thì ngài làm ơn chỉ giùm con.
Thế là trưởng lão Mose dạy cho người đàn ông biết cách cầu nguyện cho đúng. Người đàn ông chùi nước mắt, cúi xuống lạy Mose. Khi người đàn ông đã đi về nhà, trưởng lão Mose cảm thấy hạnh phúc vì đã làm một việc thiện. Ông ngước nhìn lên trời để xem Chúa Trời nghĩ gì về ông. Nhưng Chúa Trời bảo:
– Ta phái ngươi đi để dẫn mọi người về với ta nhưng bây giờ ngươi đã làm cho xa một người mà ta yêu dấu. Lời cầu nguyện “đúng” mà ngươi dạy cho người đàn ông đâu phải là lời cầu nguyện, bởi vì cầu nguyện không hề có qui tắc nào cả.
Lời cầu nguyện – đó là tình yêu. Mà tình yêu có qui luật trong mình, tình không cần đến qui tắc nào nữa cả.


Những phương pháp đo độ cao

Một giảng viên Đại học ở Anh đã nhờ nhà bác học Ernest Rutherford (1781 – 1937 – Giám đốc Viện hàn lâm Khoa học Hoàng gia, giải Nobel Hóa học năm 1908) đứng ra làm trọng tài cho một việc. Người giảng viên này định cho một sinh viên của mình điểm thấp về môn vật lý nhưng cậu sinh viên khẳng định rằng câu trả lời xứng đáng đạt điểm cao nhất. Cả hai người – thầy và trò – nhất trí mời trọng tài làm chứng. Người được mời là Rutherford.

Câu hỏi thi như sau: “Anh (chị) hãy giải thích, bằng cách nào có thể đo được chiều cao của ngôi nhà, sử dụng khí áp kế?”
Câu trả lời của sinh viên như sau: “Cần đem khí áp kế lên mái nhà, buộc khí áp kế vào một sợi dây dài thả xuống đất, sau đó kéo lên đo độ dài sợi dây thì sẽ biết chính xác độ cao của ngôi nhà”.
Trường hợp này quả là phức tạp, vì rằng câu trả lời hoàn toàn chính xác. Mặt khác, đây là câu hỏi thi môn vật lý nhưng câu trả lời không hề sử dụng kiến thức của vật lý.
Rutherford đề nghị cậu sinh viên trả lời một lần nữa. Nhà bác học cho 6 phút chuẩn bị và báo trước rằng, câu trả lời cần sử dụng kiến thức của môn vật lý. Năm phút trôi qua nhưng cậu sinh viên không viết gì lên tờ giấy chuẩn bị cả. Rutherford hỏi liệu có trả thi được không thì cậu sinh viên trả lời rằng có nhiều cách giải đề thi này nhưng chỉ đơn giản là cậu đã chọn cách tốt nhất.
Thế là nhà bác học đề nghị sinh viên trả lời, không đợi hết thời gian chuẩn bị. Câu trả lời mới như sau: “Cầm khí áp kế trèo lên mái nhà, ném khí áp kế xuống đất, đo thời gian rơi, sau đó dùng công thức tính ra độ cao ngôi nhà”.
Rutherford hỏi người đồng nghiệp giảng viên có hài lòng với câu trả lời như vậy không. Người này trả lời: được. Tuy vậy, cậu sinh viên nói rằng còn nhiều cách giải khác, và họ đề nghị sinh viên trả lời tiếp.
– Có nhiều cách để đo độ cao một ngôi nhà dùng khí áp kế – cậu sinh viên trả lời – Thí dụ, ta có thể chọn ngày trời nắng đo độ cao của khí áp kế và bóng của nó, đo độ dài bóng của ngôi nhà. Sau đó tìm tỉ lệ, xác định ra chiều cao của ngôi nhà.
– Tốt – Rutherford nói – còn cách nào nữa không?
– Có một cách rất đơn giản, em tin là các thầy sẽ thích. Ta trèo lên theo thang, áp khí áp kế vào tường và đánh dấu. Sau đó đếm số dấu, nhân với độ dài của khí áp kế sẽ có độ cao của ngôi nhà.
– Một cách khác phức tạp hơn – cậu sinh viên tiếp tục – ta buộc vào khí áp kế một sợi dây rồi lắc như quả lắc, xác định sức hút ở dưới móng ngôi nhà và ở trên mái nhà. Từ sự khác nhau về độ lớn của sức hút có thể tính được độ cao của ngôi nhà.
– Trong số vô vàn những phương pháp để giải quyết vấn đề trên – cậu sinh viên kết luận – theo em, có một cách đơn giản nhất: ta đem theo khí áp kế, tìm người quản lý ngôi nhà và nói với người này: “Thưa ông, tôi có một khí áp kế rất tuyệt. Tôi xin tặng nó cho ông nếu ông làm ơn nói cho tôi biết độ cao của ngôi nhà này”.
Nhà bác học Rutherford hỏi cậu sinh viên rằng quả thực có phải cậu không biết cách giải phổ biến của câu hỏi này. Cậu sinh viên thú thực rằng biết nhưng mà đã chán đến tận cổ cái cảnh ở trường nào thầy giáo cũng gán cho sinh viên cách tư duy của mình.
Cậu sinh viên trên là Niels Henrik David Bohr (1885 – 1962) – nhà vật lý Đan Mạch, giải Nobel Vật lý năm 1922.


Cái ác có tồn tại không?

Một giảng viên Đại học dạy môn triết học hỏi các sinh viên của mình:
– Theo các em, có phải tất cả những gì tồn tại trên đời là do Thượng Đế tạo ra?
Một sinh viên trả lời:
– Vâng ạ. Do Thượng Đế tạo ra.
– Thượng Đế tạo ra tất cả? – thầy giáo hỏi.
– Đúng thế ạ.
Thầy hỏi tiếp:
– Nếu Thượng Đế tạo ra tất cả, thì có nghĩa là Thượng Đế tạo ra cái ác. Và theo nguyên tắc rằng mọi công việc, hành động của ta xác định con người ta, nghĩa là, Thượng Đế là cái ác.
Tất cả sinh viên im lặng. Thầy giáo tiếp tục chứng minh rằng lòng tin vào Thượng Đế chỉ là điều hoang tưởng.
Lúc này, một sinh viên giơ tay hỏi:
– Thưa thầy, em có được phép ra câu hỏi cho thầy không ạ?
– Tất nhiên – thầy giáo trả lời.
Cậu sinh viên đứng dậy hỏi:
– Thưa thầy, cái lạnh có tồn tại không ạ?
– Em hỏi thật buồn cười, tất nhiên là cái lạnh tồn tại. Em không bao giờ cảm thấy lạnh hay sao?
Cả lớp học cười ồ, nhưng cậu sinh viên tiếp tục:
– Thưa thầy, trên thực tế cái lạnh không tồn tại. Theo những qui luật của vật lý học thì cái mà ta cho là lạnh, thực ra là do không có nóng. Người hay vật chỉ có thể trở thành đối tượng để nghiên cứu với điều kiện có hay không năng lượng. Độ không tuyệt đối (460 độ âm) là hoàn toàn không có cái nóng. Tất cả vật chất trở thành trơ, không có khả năng phản ứng trong nhiệt độ này. Cái lạnh không tồn tại. Chúng ta dùng khái niệm này để mô tả trạng thái không có nóng.
Cậu sinh viên tiếp tục:
– Thưa thầy, bóng tối có tồn tại không ạ?
– Tất nhiên! – Thầy giáo trả lời.
– Thầy lại hiểu không đúng. Bóng tối không tồn tại. Bóng tối, trên thực tế là do thiếu ánh sáng. Ta có thể nghiên cứu, có thể đo được ánh sáng chứ không phải bóng tối. Ta có thể dùng lăng kính Newton để phân giải ánh sáng thành nhiều màu và tìm hiểu những độ dài khác nhau của luồng sáng. Nhưng ta không thể đo được bóng tối. Một luồng sáng bất kỳ có thể thâm nhập vào bóng tối và chiếu sáng nó. Ta không xác định được một khoảng không nào đấy tối đến mức nào? Ta chỉ có thể đo được độ sáng thôi, phải không ạ? Bóng tối là khái niệm mà con người dùng để mô tả trạng thái không có ánh sáng.
Cuối cùng, cậu sinh viên hỏi thầy giáo:
– Thưa thầy, cái ác có tồn tại không ạ?
Thầy giáo trả lời mà đã không còn chút nào tự tin:
– Tất nhiên, như đã nói từ đầu. Chúng ta nhìn thấy nó hàng ngày. Sự nghiệt ngã giữa con người với con người, tội ác và bạo lực ở khắp nơi. Tất cả những điều này là sự biếu hiện của cái ác.
Cậu sinh viên lại tiếp tục:
– Thưa thầy, cái ác không tồn tại, hoặc ít ra là không tồn tại đối với chính nó. Cái ác có mặt chỉ đơn giản là vì không có mặt thần thánh. Cái ác cũng như cái lạnh và bóng tối – chỉ là những khái niệm mà con người dùng để mô tả tình trạng không có Thượng Đế. Thượng Đế không tạo ra cái ác. Cái ác không phải là tình yêu hay lòng tin – là những thứ tồn tại như ánh sáng hay sức nóng. Cái ác là kết quả của sự thiếu vắng trong trái tim con người một tình yêu thần thánh. Cái ác, cũng giống như cái lạnh, ập đến khi không có nóng, hay như bóng tối, ập đến khi không có ánh sáng.
Thầy giáo không nói gì và cậu sinh viên ngồi xuống.


Một câu trả lời cho ba câu hỏi

Một chàng trai tìm câu trả lời cho những câu hỏi của mình. Chàng gặp rất nhiều người nhưng không ai trả lời được cả. Một hôm chàng trai gặp một giáo sĩ Hồi giáo và hỏi người này những câu hỏi sau:
1. Có Thượng Đế không? Nếu có thì làm ơn chỉ giùm đường nét của Ngài?
2. Số phận là gì?
3. Tại sao, nếu quỉ sứ được tạo ra từ lửa và quỉ sứ ở địa ngục, nơi mọi thứ đều trong lửa thì quỉ sứ sẽ không đau. Chẳng lẽ điều này do Thánh Ala nghĩ ra?
Vị giáo sĩ bất ngờ tát cho chàng trai một cái tát rất mạnh. Chàng trai không hiểu gì, hỏi:

– Tại vì sao ngài lại giận con?
– Giáo sĩ trả lời:
– Ta không hề giận con. Đấy là câu trả lời cho những câu hỏi của con.
– Thế nghĩa là sao?
– Con cảm thấy điều gì sau khi ta tát con?
– Tất nhiên là cảm thấy đau.
– Nghĩa là con tin rằng cái đau tồn tại?
– Vâng.
– Thế con làm ơn chỉ giùm đường nét của nó?
– Con không thể!
– Đấy là câu trả lời cho câu hỏi thứ nhất. Còn bây giờ con hãy trả lời ta, hôm qua con có mơ thấy rằng ta sẽ tát con?
– Không.
– Con có bao giờ nghĩ rằng hôm nay bị cái tát?
– Không.
– Đấy là số phận. Bên ngoài bàn tay tát vào con là gì?
– Da.
– Thế bên ngoài mặt của con?
– Da.
– Con đau lắm à?
– Đau lắm!
– Đấy là câu trả lời cho câu hỏi thứ ba.


Chinh phục cả thế giới

Chuyện kể rằng: vào ngày Alexander Đại đế trở thành người chinh phục được cả thế giới, ông đã đóng cửa phòng ngồi khóc.
Nhưng tướng lĩnh của ông rất lấy làm lo lắng. Điều gì đã xảy ra? Họ chưa từng thấy ông khóc bao giờ, ông đâu phải là người như vậy. Họ đã sát cánh cùng ông trong những giờ phút hiểm nghèo nhất. Đôi khi cái chết đã kề bên nhưng họ không hề thấy trên gương mặt của ông lộ vẻ tuyệt vọng. Ông luôn là tấm gương về sự dũng cảm. Thế mà bây giờ điều gì đã xảy ra, khi mà cả thế giới đã bị ông chinh phục?
Họ gõ cửa phòng ông và hỏi:
– Thưa ông, tại sao ông lại khóc, điều gì đã xảy ra với ông?
Alexander Đại đế trả lời:
– Bây giờ, khi ta trở thành người chiến thắng thì ta hiểu ra rằng ta đã thất bại. Bây giờ trong lòng ta sự chinh phục vô nghĩa đang trỗi dậy. Điều này chỉ bây giờ ta mới biết, bởi vì trước đây ta luôn ở trên đường, ta có mục đích. Còn bây giờ ta không còn biết đi đâu, chinh phục ai nữa. Ta cảm thấy bên trong mình có một sự trống rỗng khủng khiếp. Ta đã thất bại.
Alexander Đại đế chết vào năm ông 33 tuổi. Khi người ta đưa ông đến nơi mai táng, hai cánh tay của ông thò ra và đung đưa theo hai phía của quan tài. Đấy là người ta làm theo lời di chúc của ông. Ông muốn cho người đời nhìn thấy rằng mình từ giã cõi đời với hai bàn tay trắng.


Những nhà thông thái cởi trần

Alexander Đại đế hỏi Hoàng đế Ấn Độ Porus:
– Ngài học sự khôn ngoan ở đâu?
Hoàng đế Ấn Độ trả lời:
– Những nhà thông thái cởi trần dạy cho tôi.

Alexander Đại đế muốn gặp họ. Ngài gửi cho họ một bức thư, các nhà thông thái đồng ý tiếp và trả lời những câu hỏi của ông. Alexander Đại đế hỏi 10 câu hỏi và nhận được 10 câu trả lời.
Câu thứ nhất:
– Ở đời ai nhiều hơn: người sống hay người chết?
– Người sống, bởi vì người chết đã không còn nữa.
Câu thứ hai:
– Cái gì nuôi động vật nhiều hơn: đất liền hay biển?
– Biển. Bởi vì đất liền chỉ là hòn đảo trên đại dương.
Câu thứ ba:
– Con vật nào khôn ranh nhất?
– Con vật chưa lọt vào mắt người.
Câu thứ tư:
– Các ngài khuyên Paras đấu tranh với tôi để làm gì?
– Để ông ấy sống vinh quang và chết vinh quang.
Câu thứ năm:
– Cái gì có trước: ngày hay đêm?
– Ngày có trước một ngày.
– Câu trả lời khó quá - Alexander bảo.
– Trả lời cho câu hỏi khó. – Các nhà thông thái trả lời.
Câu thứ sáu:
– Như thế nào thì xứng đáng được yêu?
– Hãy là người mạnh nhất, nhưng không phải là người đáng sợ nhất.
Câu thứ bảy:
– Cái gì mạnh hơn: cuộc sống hay cái chết?
– Cuộc sống. Cuộc sống nhiều đau khổ hơn.
Câu thứ tám:
– Khi nào thì con người nên chết?
– Khi cái chết đối với người này tốt hơn cuộc sống.
Hai câu cuối lịch sử đã không còn giữ lại được.


Vị Hoàng đế cao thượng

Hai thế kỷ sau khi Đức Phật tạ thế, Alexander Đại đế chinh phục gần hết Tây Á và đang tiến đến biên cương của Ấn Độ. Nhưng vị Hoàng đế, vị tướng tài ba vẫn chưa quyết định tiến vào Ấn Độ. Ngài hiểu rằng đất nước này có quân đội thiện chiến với những con voi to lớn được huận luyện kỹ càng. Thời ấy, cai trị đất nước Ấn Độ là Hoàng đế Paras (Porus), nổi tiếng là một vị Hoàng đế cao thượng. Alexander cử người yêu của mình đến gặp Paras.

Ở Ấn Độ có ngày lễ các chị em gái. Theo phong tục, trong ngày này cô gái có thể buộc sợi chỉ đỏ vào cổ tay chàng trai và gọi chàng là anh trai của mình. Còn chàng trai phải chạm vào bàn chân cô gái và thề sẽ bảo vệ cô như em gái. Em gái thì hứa sẽ cầu nguyện cho anh trai suốt đời.
Vào đúng ngày này, người ta báo cho Hoàng đế Paras biết rằng có cô gái xinh đẹp, nổi tiếng khắp trần gian, người yêu của Alexander Đại đế muốn gặp ông. Hoàng đế Paras bước ra niềm nở chào đón cô gái. Sau đó ông dẫn cô vào cung điện, mời cô ngồi lên ngai vàng và lễ phép hỏi:
– Cô đi đường rất lâu mới đến được đây. Ta có thể giúp cho cô điều gì?
Cô gái trả lời:
– Tôi đi dến đây bởi vì tôi muốn ngài trở thành anh trai của tôi. Tôi không có anh trai và rất muốn ngài trở thành anh trai tôi.
Paras hiểu rằng điều này có thể chỉ là một sự khiêu khích nhưng ông vẫn quì xuống ôm bàn chân người đẹp và nói:
– Nếu cô không có anh trai thì ta xin làm anh trai của cô!
Cô gái quấn sợi chỉ đỏ vào cổ tay vị Hoàng đế và hứa sẽ suốt đời cầu nguyện cho ông.
Sang ngày hôm sau Alexander Đại đế bắt đầu tiến quân vào Ấn Độ. Paras cũng ra trận trên một con voi to lớn. Trong một trận đánh, Paras đã dùng giáo đâm chết con ngựa của Alexander. Alexander ngã xuống đất. Con voi đã được huấn luyện dùng chân giẫm lên kẻ thù, nó đã giơ chân nhưng Paras bỗng nhớ đến sợi chỉ đỏ buộc trên cổ tay và nghĩa vụ của mình trước người yêu của Alexander nên giật dây và con voi lùi lại. Bằng việc làm như vậy, ông đã bỏ qua cơ hội chớp nhoáng và cuối cùng bị thất bại. Ông bị bắt làm tù binh, bị cùm và người ta dẫn ông đến gặp Alexander.
Mặc dù bị cùm nhưng vẻ trang nhã và cao thượng của vị Hoàng đế đã làm cho người chinh phục vĩ đại không khỏi ngạc nhiên và kính phục. Alexander hỏi Paras:
– Ngài muốn ta xưng hô với ngài như thế nào?
– Cần xưng hô như với một Hoàng đế. – Paras trả lời.
Alexander bảo quan lính:
– Ta chưa bao giờ gặp một ai như Paras. Ông ta là tù binh nhưng phong thái và nói năng đĩnh đạc quá.
Sau đó ông ra lệnh:
– Hãy tháo cùm cho ông ấy, ngay cả trong cùm thì ông vẫn là một Hoàng đế. Hãy trả lại vương quốc cho ông ấy!
Trước khi chia tay, Alexander hỏi Paras:
– Tại vì sao ngài đã quay mũi giáo khi ta đã nằm dưới đất? Chỉ một phút là ta đã có thể bị giết chết, hoặc con voi của ngài đã có thể giẫm lên ta. Tại vì sao ngài đã không làm như vậy?
Paras trả lời:
– Xin ngài đừng hỏi về điều này. Đây là sợi chỉ đỏ. Ngài có biết gì về nó không? Tôi không thể bước qua những điều như vậy. Người yêu dấu của ngài là em gái của tôi nhưng không phải vì điều này mà ngài phải tỏ ra trách nhiệm với tôi.


Alexander Đại đế và Sannyasin

Khi Alexander Đại đế chuẩn bị lên đường chinh phục Ấn Độ, thầy của ông là nhà triết học Aristotle dặn: “Từ Ấn độ hãy mang về đây cho thầy một món quà. Hãy đem về đây một Sannyasin – người tránh xa cuộc đời thường để tìm ra chính mình”.
Đi qua nhiều nơi, ở đâu Alexander cũng hỏi dân chúng: “Ta muốn gặp người nhận thức được chính mình. Ta không cần người đang đi tìm mà cần người đã tìm được chính mình”. Lần nào dân chúng cũng trả lời ông: “Ở dưới chân đồi, bên sông có ông già như vậy”.
Alexander ra lệnh cho một vị tướng đi tìm và dẫn về cho ông người như vậy. Khi vị tướng và binh lính đến nơi nói trên, hỏi một già làng về Sannyasin thì được trả lời:

– Vâng, quả là ở đây có một Sannyasin. Nhưng chắc gì các ông thuyết phục được người này.
Vị tướng cười trả lời:
– Vớ vẩn! Nếu Alexander Đại đế ra lệnh thì cả tổng này sẽ đi theo ông.
Sau đó họ đi tìm Sannyasin, thấy một ông già cởi trần đứng bên sông. Những người lính bảo:
– Ngài hãy đi với chúng tôi. Alexander Đại đế mời ngài làm khách của ông. Ngài sẽ được ban thưởng hậu hĩnh, ngài sẽ có tất cả những gì ngài muốn. Alexander Đại đế sẽ đưa ngài về Hy Lạp.
Sannyasin bình thản trả lời:
– Không một thế lực nào ở đời này bắt được ta theo các người. Nếu Alexander cần ta thì ông ấy cứ việc đến đây.
Vị tướng mà Alexander phái đến tỏ ra vô cùng ngạc nhiên. Ông chưa bao giờ nghe giọng kẻ cả như vậy, nhưng ông không dùng sức mạnh mà quay về bảo Alexander:
– Người này rất cao ngạo với con và con sợ hắn cũng sẽ như thế với ngài.
Alexander Đại đế ngẩng đầu kiêu hãnh:
– Kẻ nào không biết kính trọng ta, kẻ đó sẽ chết. Ta đi đây.
Nhưng khi đến nơi, Alexander cảm thấy một điều gì không bình thường. Sannyasin nói với ông trước:
– Ngài là Alexander Đại đế hả. Ta nghĩ rằng tất cả những ai tự xưng mình là người vĩ đại thì không hề vĩ đại.
– Ta đến đây không phải để tranh cãi – Alexander Đại đế trả lời – ta đến đây để mời ngài.
Ông già mỉm cười:
– Ta tự do như cơn gió! Không thể nào mời được gió. Gió thổi theo ý mình. Nếu ta cảm thấy cần thì ta tự đến Hy Lạp, nhưng nếu ta không muốn thì chẳng ai bắt được ta.
Những lời này làm cho Alexander giận dữ. Ông rút kiếm ra và nói:
– Nếu ngài không đi theo ta, ta sẽ giết.
Sannyasin trả lời:
– Ngài đã muộn. Ta đã tự giết chết mình.
Alexander giơ kiếm:
– Bây giờ đầu sẽ lìa khỏi cổ!
Sannyasin trả lời:
– Ngài có thể chặt đầu ta nhưng không thể giết được ta, bởi vì khi ngài nhìn thấy đầu ta rơi xuống đất thì ta cũng nhìn thấy nó.
Alexander đã không thể giết con người này. Trong nhật ký của ông vẫn còn ghi lại những điều này. Sannyasin có tên là Datdamesh.


Thuốc trường sinh bất lão

Alexander Đại Đế trong suốt cả cuộc đời mình vẫn thích tìm ra thuốc trường sinh bất lão và, theo truyền thuyết, quan lính của ông đã tìm thấy nó ở một sa mạc Ả Rập. Thuốc trường sinh bất lão được tìm thấy trong một hang núi, Alexander Đại Đế nhảy lên vì sung sướng.
Ngài tìm đến hang núi này một mình, không đem theo ngay cả những người bạn gần gũi nhất. Bước vào hang, ngài nhìn thấy một dòng nước trong suốt như pha lê chảy xuống từ trên cao và ánh sáng chiếu vào tạo ra những sắc cầu vồng. Alexander đắm đuối ngắm nhìn và muốn uống nước nhưng bỗng nghe tiếng tiếng quạ kêu. Ngài rùng mình và nhìn lên thấy một ông già có bộ râu dài chấm đất. Bên cạnh ông già là một con quạ.
Ông già nói:
- Trước khi ngươi uống nước này, hãy suy nghĩ cho kỹ đi. Ngày xưa ta uống nước này và ta đã sống qua mấy trăm năm. Giá mà ngươi biết được ta mệt mỏi biết chừng nào! Ta vô cùng tuyệt vọng. Ta muốn chết mà không chết được. Ta đã chán cuộc đời, không còn khát khao, mong muốn một thứ gì. Cuộc sống cần đổi mới, mà đổi mới chỉ có cách là đi qua cái chết.
Theo truyền thuyết, những lời này đã tác động rất mạnh đến Alexander Đại Đế. Ngài vùng chạy ra khỏi hang núi, lao lên ngựa và phóng thẳng.


Loại trừ nguyên nhân đau đớn sau này

Một lần, Alexander Đại Đế được tặng một bộ bát đĩa bằng thủy tinh rất đẹp. Ngài rất thích bộ bát đĩa này nhưng đồng thời lại lệnh đem chúng ra đập vỡ hết. Khi các vị đại thần hỏi tại vì sao ngài lại xử sự một cách lạ lùng như vậy, ngài trả lời:
- Ta biết rằng theo thời gian, những chiếc bát đĩa này sẽ lần lượt bị những người đầy tớ của ta làm vỡ. Và cứ mỗi lần như vậy thì ta đau đớn và sẽ nổi giận, thà chịu một lần rất đau nhưng sẽ loại trừ được nguyên nhân của nhiều lần đau đớn sau này.


Tận hưởng cuộc sống

Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Diogenes từng là một trong những bộ óc hiếm hoi của con người. Trước ngày Alexander Đại Đế lên đường đi chinh phục Ấn Độ, ông đã tìm đến gặp Diogenes. Khi đó Diogenes đang cởi truồng nằm phơi nắng trên bãi cát bên bờ sông. Diogenes trông rất tuyệt vời, khi người ta sảng khoái trong lòng thì vẻ bên ngoài cũng hiện rõ. Alexander Đại Đế vô cùng ngạc nhiên trước vẻ đẹp như vậy đã thốt lên:
- Thưa ngài…
Cả đời ông chưa bao giờ gọi ai như vậy. Ông nói tiếp:
- Ta ngạc nhiên trước vẻ đẹp của ngài và muốn làm cho ngài một điều gì đấy.
Diogenes trả lời:
- Chỉ cần ngài đứng tránh ra một chút cho khỏi che mất của tôi ánh nắng. Thế thôi, ngoài ra không cần gì khác.
Alexander Đại Đế đứng tránh sang một bên, với một vẻ trầm ngâm nói:
- Giá như ta có một cách khác để sinh ra ở đời này thì ta sẽ xin Thượng Đế thay vì Alexander Đại Đế làm Diogenes.
Diogenes cười:
- Thế ai cản trở ngài làm điều đó? Ngài chuẩn bị đi đâu? Hàng tháng nay tôi nhìn thấy chỉ quan với lính. Ngài đi đâu? Để làm gì cơ chứ?
- Ta đến Ấn Độ để chinh phục cả thế giới.
- Và sau đấy thì ngài sẽ làm gì? – Diogenes hỏi.
- Sau đấy ta sẽ nghỉ ngơi.
Diogenes lại cười và bảo:
- Ngài có điên không! Tôi đang nghỉ ngơi đây. Tôi đang sung sướng ngay bây giờ. Tôi không đi chinh phục thế giới, tôi không cảm thấy điều này là cần thiết. Ngài muốn nghỉ ngơi và hưởng sung sướng sau này, nhưng tại sao lại không phải bây giờ? Ai nói với ngài rằng trước khi nghỉ ngơi và hưởng lạc cần phải chinh phục cả thế giới? Tôi xin nói với ngài rằng nếu ngài không nghỉ ngơi bây giờ thì sẽ không bao giờ cả. Ngài không thể nào chinh phục được cả thế giới… ngài sẽ chết giữa đường. Tất cả đều chết giữa con đường như vậy.
Alexander Đại Đế trả lời rằng sẽ lưu ý đến những lời khuyên và rất cám ơn Diogenes điều này nhưng hiện tại ông không thể dừng lại.
Và sau đó ông đã chết giữa cuộc hành trình. Ông không còn trở về nhà mà chết giữa đường.
Nhiều thế kỷ sau người đời kể với nhau một truyền thuyết rằng chính Diogenes cũng chết vào ngày đó. Họ gặp nhau trên đường đến gặp Thượng Đế khi đi qua một con sông. Alexander Đại Đế đi trước mấy bước, nghe tiếng bước chân bèn quay lại thì nhận ra Diogenes. Nhìn thấy Diogenes với vẻ tuyệt vời như ngày trước, Alexander Đại Đế cố giấu vẻ bối rối của mình, bảo:
- Thế là chúng ta lại gặp nhau, vị hoàng đế và kẻ bần cùng.
Diogenes trả lời:
- Đúng vậy. Nhưng ngài không hiểu, không biết ai là hoàng đế còn ai là kẻ bần cùng. Vì rằng tôi sống hết cuộc đời của mình một cách đầy đủ, tôi hưởng hết mọi khoái lạc có ở đời, tôi có thể đứng trước Thượng Đế còn ngài thì không thể. Hãy thử nhìn vào chính mình! Ngài nhận được gì sau khi chinh phục cả thế giới? Ngài thậm chí không dám nhìn thẳng vào mắt tôi, ngài đã sống một cuộc đời uổng phí.


Thà chết còn hơn là nghi ngờ bạn

Ngày xưa Alexander Đại đế từng bị sốt rét rất nặng. Chữa bệnh cho ông là một người bạn - thầy thuốc. Chỉ có người bạn này là ông tin tưởng để pha thuốc cho ông uống mỗi buổi chiều. Một lần, vị Hoàng đế nhận được một mẩu giấy có dòng chữ rằng người bạn - thầy thuốc muốn đầu độc ông. Buổi chiều, đến giờ uống thuốc, vị Hoàng đế một tay đưa mẩu giấy cho người bạn - thầy thuốc, còn tay kia nhận chén thuốc và uống hết một hơi.
- Ôi, Alexander Hoàng đế ơi - người bạn thầy thuốc kêu lên sau khi đọc mẩu giấy - tại sao ngài lại uống khi mà trong mẩu giấy đã viết như thế rồi??!!
Vị Hoàng đế trả lời:
Ta thà chết cũng còn hơn là nghi ngờ bạn!


Ông già và cái chết

Ngày xưa có một ông già sống đến 100 tuổi. Cái chết biết vậy nên đã nói với ông:
– Đến lúc chết rồi đấy, ông già ạ.

– Cho tôi xin thêm một ít thời gian để chuẩn bị cho ngày chết – ông già nói.
– Được – Cái chết đồng ý – ông cần bao nhiêu ngày?
– Ba ngày – ông già trả lời.
Cái chết nghĩ bụng sẽ để ý xem ông già làm những gì trong ba ngày.
Ngày thứ nhất: ông già đi ra vườn đào hố trồng cây.
“Để xem ngày thứ hai ông già sẽ làm gì” – Cái chết lại suy nghĩ.
Ngày thứ hai: ông già lại đi ra vườn đào hố trồng thêm cây nữa.
“Thế ngày thứ ba ông già sẽ làm gì đây?” – Cái chết rất sốt ruột.
Ngày thứ ba: ông già cũng vẫn đi ra vườn đào hố trồng cây.
– Ông trồng cây mà để làm gì? – Cái chết hỏi – Ngày mai ông đã phải chết rồi?
– Tôi trồng cây để cho mọi người – ông già trả lời.
Cái chết nghe ông già nói vậy đã vội vàng bỏ đi.


Chinh phục thiên hạ

Ngày xửa ngày xưa có hai anh em, một người rất giàu còn một người rất nghèo, cả hai đều muốn đi chinh phục thiên hạ. Người thứ nhất lấy vàng bạc từ trong kho ra chi tiêu để chiêu mộ quân sĩ, mua sắm vũ khí và bắt đầu cuộc chinh phục những miền đất lạ. Người này chiếm được nhiều hòn đảo nhưng đã giết hết tất cả những người dân của những hòn đảo này, một năm sau vùng đất tươi tốt, màu mỡ nhờ có bàn tay con người chăm sóc bỗng trở nên tiêu điều như đất hoang. Người này xua quân đến chiếm những thành phố buôn bán sầm uất và ra lệnh triệt phá tất cả, trở thành ông vua của một xứ sở hoang tàn đổ nát. Đến một ngày mặt đất hoang không nuôi nổi đội quân, những người lính lần lượt chết đói và đến lượt nhà vua cũng trở thành kẻ hành khất. Nhà vua lang thang trên mặt đất khô cằn mà không thể nào hiểu được rằng tại vì sao con chim hạnh phúc lại không đậu lên ngọn giáo thấm đầy máu của ông.
Người thứ hai cũng mơ ước đi chinh phục thiên hạ nhưng trước khi ra đi người này nuôi trong lòng mình một ngọn lửa Tình yêu. Khi đi đến với thiên hạ người này hướng ngọn lửa này đến với mọi người. Mỗi nơi người này đặt chân đến, ánh sáng của Tình yêu làm bừng lên cuộc sống và những người được ngọn lửa này tỏa sáng cũng nảy sinh trong lòng mình ngọn lửa như vậy rồi sau đó chuyền lại cho những đời sau. Cả thiên hạ bị chinh phục bởi người này nhưng ông không cai quản một ai cả. Người này hiểu rằng: càng đem cho đi thì sẽ nhận được càng nhiều và những gì mà ông đang có, ông không đem bỏ vào một kho nào mà chỉ đặt ở trong trái tim mình.
Con người bằng tình yêu của mình có thể chinh phục cả thế giới và trở thành chúa tể của cuộc đời nếu trong lòng người ta có kho báu những giá trị tinh thần của cuộc đời này.


Quà tặng trong ngày cưới

Ngày xưa có chàng trai và cô gái rất yêu nhau. Cả hai đều rất nghèo nhưng họ vẫn quyết định cưới nhau. Tài sản duy nhất của chàng trai là chiếc đồng hồ do ông nội để lại. Chàng trai quyết định bán đồng hồ để lấy tiền mua chiếc lược bằng bạc tặng cho người vợ – là người có mái tóc dài tuyệt đẹp. Cô gái cũng nghĩ rằng phải có món quà gì đấy để tặng cho chồng trong ngày cưới nên đã đến bán mái tóc dài và đẹp của mình cho một nhà buôn để lấy tiền mua một dây đeo dồng hồ bằng vàng.
Ngày cưới, chồng tặng vợ chiếc lược bằng bạc nhưng mái tóc dài đã cắt, còn vợ tặng chồng dây đeo bằng vàng cho chiếc đồng hồ mà chồng đã bán đi.


Về sự chịu đựng

Ngày xưa, vua Do Thái Solomon nổi tiếng là một người anh minh. Dù là một người thông thái như vậy nhưng đôi khi cuộc sống của ông cũng không hề yên lặng. Một hôm nhà vua cho gọi một nhà thông thái trong triều đến và bảo:
– Nhà ngươi hãy giúp ta. Có nhiều thứ trong cuộc sống làm ta không tự chủ được. Ta là người quá đam mê.
Nhà thông thái trả lời:
– Ngài hãy đeo chiếc nhẫn này. Trên mặt nhẫn có khắc dòng chữ “ĐIỀU NÀY SẼ QUA!” Khi ngài quá giận dữ hoặc quá vui sướng, hãy nhìn vào dòng chữ này thì sẽ bình tâm lại. Nó giúp cho ngài tránh được sự quá đam mê”.
Sau một thời gian làm theo lời khuyên này, nhà vua cảm thấy tĩnh lặng hơn trước nhưng có một lần nhìn dòng chữ trên, nhà vua không những không bình tâm, mà ngược lại, còn giận dữ nhiều hơn. Nhà vua tháo chiếc nhẫn định vứt nó xuống hồ nước nhưng bỗng nhìn thấy phía bên trong có viết chữ gì đấy. Vua Solomon để ý nhìn kỹ thì thấy dòng chữ “VÀ ĐIỀU NÀY CŨNG SẼ QUA...”
  

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét